Toàn Tập Về Quản Lý Thời Gian

Quản lý thời gian là một chủ đề không mới nhưng lại có nhiều quan điểm khác nhau về lĩnh vực này qua từng năm tháng. Nếu ở thời đại cách mạng công nghiệp, quản lý thời gian đồng nghĩa với việc làm nhiều hơn và liên tục hơn trong một khoảng thời gian cụ thể; hay đến thời đại Internet bắt đầu bùng nổ thì quản lý thời gian nghĩa là có một danh sách việc phải làm (to-do list) trong một ngày; và đến bây giờ thì quản lý thời gian đồng nghĩa với việc ưu tiên cho những điều quan trọng và mối quan hệ quan trọng nhất của mình.

Bản thân tôi là một người có tính cách thích mọi thứ linh hoạt, không thích vào khuôn khổ và cấu trúc. Chính vì vậy, khi bắt đầu đi làm tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý thời gian của mình sao cho có thể cân bằng được giữa công việc và cuộc sống. Trong khoảng hơn ba năm trở lại đây (từ năm 2014), tôi bắt đầu nghiên cứu nhiều về chủ đề này và tích cực áp dụng những gì mà tôi nghiên cứu được. Trong quá trình nghiên cứu, tôi phát hiện ra rằng quản lý thời gian trong thế kỷ hiện nay không chỉ dừng lại ở yếu tố “thời gian” nữa mà còn được mở rộng hơn thế. Suy cho cùng, tại sao ta lại cần quản lý thời gian? Câu trả lời là để có thể làm tốt công việc của mình và hoàn thành các vai trò của mình một cách chu toàn nhất. Nếu hiểu theo góc nhìn này và đặc biệt là với tính chất của xã hội bây giờ thì chỉ quản lý tốt “thời gian” thôi là chưa đủ mà theo tôi còn hai yếu tố nữa đó là “sự tập trung” và “năng lượng” của một người nữa. Giả sử ta có hai người A và B cùng làm việc trong một khoảng thời gian là 1 tiếng đồng hồ thì khả năng hoàn thành công việc của hai người này sẽ ra sao nếu:

  • Người A: Khả năng tập trung 50% + Mức năng lượng 50%
  • Người B: Khả năng tập trung 100% + Mức năng lượng 100%

Câu trả lời đó chính là người B vì anh ta đã tận dụng được tối đa một tiếng đồng hồ mình có được bằng cách tập trung cao độ và duy trì mức năng lượng của mình ở mức tối ưu nhất. Chúng ta giả sử thêm nếu đây không phải là công việc mà là một mối quan hệ nào đó thì ai sẽ có mối quan hệ tốt đẹp hơn? Một lần nữa chắc chắn là người B vì anh ta dành toàn bộ thời gian của mình để tập trung cho người đối diện với tất cả sức lực của mình.

Từ trường hợp này, tôi đề ra một công thức cho bản thân mình như sau:

Chất lượng công việc / mối quan hệ =
Số lượng thời gian x Cường độ tập trung x Mức năng lượng

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ trình bày theo một logic đi từ tư duy (mindset), kỹ năng (skillset) và cuối cùng là công cụ (toolset) mà tôi sử dụng để quản lý tốt ba yếu tố trên. Cuối cùng, tôi sẽ trình bày một ngày điển hình của mình khi áp dụng những điều tôi đã trình bày ở trên.

I. TƯ DUY (MINDSET):

Với sự bùng nổ của Internet vào đầu thế kỷ 21, và cho đến bây giờ là sự phát triển của A.I. và hàng trăm các phần mềm được ra đời mỗi ngày, thì người lao động trí óc ngày nay đang gặp phải các thách thức lớn sau:

  1. Quá nhiều sự lựa chọn cần phải đưa ra trong một ngày.
  2. Quá nhiều sự xao nhãng khiến họ mất tập trung.
  3. Quá nhiều lần kiệt sức khi phải làm việc trong một thời gian dài.

Sau một thời gian nghiên cứu, tôi cho rằng mô hình The 5 Choices: The Path to Extraordinary Productivity của tổ chức FranklinCovey là một mô hình khá toàn diện để giải quyết ba thử thách trên. Mô hình này cho rằng để giải quyết ba thách thức này đòi hỏi một người cần phải có: (1) Khả năng phán đoán tốt để biết đâu là những lựa chọn quan trọng nhất mà mình cần ưu tiên thời gian; (2) Khả năng lên kế hoạch và làm chủ công nghệ để giảm tối đa sự xao nhãng và (3) Khả năng tái tạo năng lượng của mình thay vì làm đến kiệt sức. Cụ thể hơn, họ cần phải đưa ra 5 Lựa Chọn dưới đây mỗi ngày để làm chủ thời gian, sự tập trung và năng lượng của mình.

  1. Lựa chọn 1: Ưu tiên cho điều quan trọng thay vì phản ứng với những việc khẩn cấp.
  2. Lựa chọn 2: Hướng đến sự xuất sắc thay vì chấp nhận sự tầm thường.
  3. Lựa chọn 3: Đặt lịch cho những “hòn đá lớn” thay vì phân loại những hòn sỏi nhỏ.
  4. Lựa chọn 4: Làm chủ công nghệ thay vì để nó làm chủ mình.
  5. Lựa chọn 5: Tái tạo năng lượng thay vì đốt cháy cạn kiệt “nguồn nhiên liệu” của mình.

Biểu đồ này tóm tắt 5 lựa chọn ứng với mỗi thành tố thời gian, sự tập trung và năng lượng:

5 Choices
Mô hình 5 Lựa Chọn Để Đạt Hiệu Suất Vượt Trội

Sau đây, tôi sẽ phân tích cụ thể hơn từng lựa chọn này.

Lựa chọn 1 – Ưu tiên cho điều quan trọng thay vì phản ứng với những việc khẩn cấp:

Lựa chọn này chính là Thói quen số 3 trong mô hình 7 Thói quen hiệu quả của Stephen Covey.

Nền tảng của việc ra quyết định sẽ được dựa trên Ma Trận Quản Trị Thời Gian với sự tương tác giữa hai yếu tố Khẩn cấpQuan trọng.

Ma trận quản lý thời gian
Mô Hình Ma Trận Quản Trị Thời Gian

Theo mô hình này thì hầu hết chúng ta đều vướng vào cái bẫy của việc “nghiện tính khẩn cấp”. Chúng ta có xu hướng liên kết những việc có tính khẩn cấp đồng nghĩa với nó quan trọng và khi ta hoàn thành một việc khẩn cấp nào đó, não bộ lại tiết ra chất dopamine để làm ta cảm thấy sảng khoái. Vòng lặp này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần dẫn đến việc ta luôn đi tìm những việc khẩn cấp chỉ để thỏa mãn cơn nghiện này.

Để chứng minh cho việc này, Chris Bailey, tác giả quyển sách The Productivity Project đã thực hiện một thí nghiệm như sau: anh thử nghiệm giữa tuần làm việc 20 giờ và tuần làm việc 90 giờ trong vòng một tháng để xem hiệu quả của mình như thế nào. Kết quả mà anh quan sát được khá bất ngờ, đó là tuần làm việc 90 giờ chỉ mang lại kết quả nhiều hơn một chút so với tuần làm việc 20 giờ. Chris cho biết: “Dù về mặt kết quả thì khối lượng đạt được là gần như nhau, nhưng tôi lại cảm thấy như mình hiệu quả gấp đôi khi làm nhiều giờ hơn.” Lý do mà Chris “cảm thấy như mình hiệu quả gấp đôi” là bởi vì trong tuần làm việc 90 giờ, anh luôn bận rộn giải quyết hết việc này đến việc khác và cứ mỗi lần hoàn thành một việc gì đó, anh cảm thấy rất hài lòng. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, có rất nhiều việc mà anh hoàn thành lại không hề quan trọng và không hề đóng góp gì cho công việc của anh cả.

Trong một nghiên cứu độc lập của FranklinCovey trong vòng 6 năm với 351,613 phiếu trả lời từ kháp nơi như Châu Phi, Châu Á Thái Bình Dương, Châu Âu, Mỹ Latinh, Trung Đông, và Bắc Mỹ, họ phát hiện ra rằng 60% thời gian mọi người dành cho những việc quan trọng và 40% thời gian dành cho những việc quan trọng. Thoạt nhiên, ta có thể thấy cũng không quá tệ, nhưng khi FranklinCovey chia nhỏ chúng vào các ô trong Ma Trận Quản Trị Thời Gian thì đây là kết quả họ nhận được:

Time %
Thời Gian Dành Cho Từng Góc Phần Tư

Nếu phân tích một cách kĩ lưỡng, ta sẽ thấy rằng vùng Q1 + Q3 = 51.2% cao hơn rất nhiều so với vùng Q2. Như vậy có nghĩa là trên thực tế chúng ta dành tới hơn 50% để làm những việc khẩn cấp và chỉ có khoảng 30% thời gian là để làm những thứ thực sự có ý nghĩa trong công việc và cuộc sống của mình. Như vậy ta thấy rằng để quản lý thời gian hiệu quả, cần phải giảm đi thời gian ở Q1 và Q3 nhiều nhất có thể và tăng thời lượng tập trung vào những việc quan trọng ở Q2 lên.

Tuy nhiên, Lựa chọn 1 chỉ mới cho ta một nhận thức rằng ta cần phải ưu tiên cho điều quan trọng, vấn đề đặt ra đó là làm thế nào để phân định đâu là những lựa chọn quan trọng? Tiêu chí nào để dựa trên đó ta đưa ra quyết định của mình? Lựa chọn 2 sẽ giúp ta giải quyết vấn đề này.

Lựa chọn 2: Hướng đến sự xuất sắc thay vì chấp nhận sự tầm thường.

Khái niệm xuất sắc ở đây được hiểu theo nghĩa đó là xuất sắc trong những vai trò quan trọng hiện tại của mình. Trong cuộc sống, chúng ta thường định nghĩa bản thân mình bằng những vai trò. Khi chúng ta hỏi người khác hoặc được hỏi: “Bạn làm nghề gì?” thì câu trả lời thường là “Tôi là một CEO”, “Tôi là một Marketer”, “Tôi làm mẹ toàn thời gian”, “Tôi là một người thầy giáo”. Chúng ta có rất nhiều vai trò khác nhau trong cuộc sống và trong mỗi vai trò này, chúng ta đều có những mục tiêu và viễn kiến cá nhân của vai trò đó:

  • Một người là CEO sẽ muốn mình phải xây dựng được đội ngũ mạnh, sản phẩm xuất sắc và kiếm được nhiều tiền chẳng hạn.
  • Người làm mẹ toàn thời gian thì muốn cho con cái tình yêu thương và nền giáo dục tốt đẹp nhất.
  • Người thầy giáo thì muốn truyền cho học trò tình yêu học tập và lý do cần phải quan tâm đến học vấn tự thân.

Như vậy để quản lý thời gian tốt đồng nghĩa với việc biết được những mục tiêu mình đang có trong từng vai trò này, viễn kiến (vision) của mình về vai trò đó là gì, và biết được mình có đang làm tốt hay không trong vai trò đó. Lựa chọn 2 này nói cách khác chính là Thói quen 2 của 7 Thói quen hiệu quả.

Để bắt đầu xác định các vai trò và viết nên viễn kiến của mình, chúng ta sẽ làm theo những bước sau (theo hướng dẫn của sách The 5 Choices):

Bước 1: Xác định vai trò quan trọng trong hiện tại

Đầu tiên ta cần biết được những vai trò quan trọng nhất trong cuộc đời của mình ngay ở hiện tại là những vai trò nào. Thường thì ta có khoảng từ 5-7 vai trò như vậy.

Ví dụ như những vai trò quan trọng hiện tại của tôi là:

  • Một người Coach
  • Một người Cha
  • Một người Chồng
  • Một người Học trò trong chương trình IPL
  • Một người với mối quan hệ với chính Bản thân mình

Bước 2: Đánh giá hiệu quả của mỗi vai trò

Ở bước này ta cần tự hỏi mình: “Tôi đang làm tốt những vai trò này đến mức độ nào?”

Chúng ta cần thành thật cho điểm ở mỗi vai trò từ 1-10 với 1 là tệ nhất và 10 là xuất sắc. Chúng ta cũng có thể hỏi xin phản hồi của những người xung quanh để có một cái nhìn chính xác hơn về hiệu quả của mình.

Bước 3: Đặt lại tên cho vai trò của bạn để mang lại cảm xúc tích cực và động lực

Ngôn từ tích cực có thể tạo nên cảm xúc và động lực cho chúng ta. Cùng một ý nghĩa nhưng cách dùng từ sẽ khơi gợi lên những cảm xúc hoàn toàn khác nhau.

Lấy ví dụ các vai trò của tôi được đặt tên lại như sau:

  • Coach => The Lighthouse
  • Người học trò ==> A Life-long learner

Chúng ta có thể dùng bất cứ ngôn ngữ nào cũng được, miễn là ngôn ngữ đấy khơi gợi cho chúng ta một ý nghĩa đặc biệt với bản thân mà mỗi khi nhắc đến cụm từ đó nó thúc đẩy chúng ta phải nỗ lực cho vai trò của mình.

Bước 4: Viết một tuyên ngôn cho vai trò của bạn

Ở mỗi vai trò chúng ta cần xác định viễn kiến của mình cho vai trò đó, đích đến cuối cùng của mình là gì, điều gì khi mình đạt được sẽ làm cho mình cảm thấy hài lòng rằng mình đã hoàn thành tốt vai trò đó. Công thức viết bản tuyên ngôn vai trò này rất cụ thể và rõ ràng như sau:

Là một (vai trò)… Tôi sẽ (kết quả hướng đến)… Bằng cách (những hoạt động để đạt đến kết quả đó).

Ví dụ với vai trò là A Life-long Learner của tôi, tôi sẽ viết như sau:

Là một Tôi sẽ Bằng cách
Life-long Learner (Người học tập suốt đời) Sống với 3 tinh thần “Thực học, Khai phóng, Chuyên sâu” và 3 giá trị “Tự do, Trách nhiệm, Ưu tú” của IPL Sống dấn thân và thực học thay vì sống làng nhàng và hư học; luôn tự nhắc nhở mình về những “điểm mù” của bản thân bằng cách phản tỉnh và phản tư chính mình; nỗ lực mở rộng góc nhìn của mình bằng cách liên tục học hỏi từ trong sách vở và trong thực tế; chấp nhận những quan điểm khác biệt của người khác để học hỏi và phát triển.

Bước 5: Đặt mục tiêu cụ thể cho từng vai trò

Sau khi đã xác định vai trò và đích đến mình muốn hướng tới trong từng vai trò, tôi sẽ xác định những mục tiêu cụ thể trong năm nay để giúp tôi tiến gần hơn đến cái đích mà tôi đã chọn. Phương pháp đặt mục tiêu thông dụng nhất sẽ là dùng SMART Goals, hoặc theo như trong The 5 Choices thì là công thức Từ X đến Y vào lúc Z. Ví dụ:

  • Giảm từ 90 cân xuống 70 cân vào 25/12/2018
  • Nâng cao thu nhập từ 15 triệu lên 30 triệu vào 23/4/2018

Ngay cả những thứ khó định lượng như mối quan hệ thì ta cũng có thể đưa nó về được định lượng bằng cách trước tiên xác định từ 1-10 thì điểm số hiện tại là bao nhiêu, sau đó xác định mình muốn hướng đến điểm số bao nhiêu. Ví dụ:

  • Nâng cao mối quan hệ với vợ / chồng từ 4 điểm lên 8 điểm vào 20/10/2018
  • Tăng khả năng thuyết trình từ 6 điểm lên 7 điểm sau một tháng nữa

Tiếp tục lấy ví dụ ở trên, tôi sẽ đặt ra những mục tiêu sau:

Là một Tôi sẽ Bằng cách Mục tiêu 2018
Life-long Learner (Người học tập suốt đời) Sống với 3 tinh thần “Thực học, Khai phóng, Chuyên sâu” và 3 giá trị “Tự do, Trách nhiệm, Ưu tú” của IPL Sống dấn thân và thực học thay vì sống làng nhàng và hư học; luôn tự nhắc nhở mình về những “điểm mù” của bản thân bằng cách phản tỉnh và phản tư chính mình; nỗ lực mở rộng góc nhìn của mình bằng cách liên tục học hỏi từ trong sách vở và trong thực tế; chấp nhận những quan điểm khác biệt của người khác để học hỏi và phát triển. 1. Hoàn thành một năm học tại IPL với điểm số xuất sắc (> 9) bằng tinh thần dấn thân và thực học.

Quy trình này lập lại tương tự như vậy cho các vai trò quan trọng khác. Tuy nhiên, sách khuyến khích mỗi người chỉ nên xác định từ 3-6 vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn hiện tại để tránh bị quá tải.

Sau khi đã có được một bản tuyên ngôn vai trò với các mục tiêu cụ thể, lúc này ta đã có được tiêu chí để phân định việc nào là việc quan trọng, việc nào là việc không quan trọng, việc nào là gấp hay không gấp để sắp xếp chúng vào đúng góc phần tư tương ứng.

Lựa chọn 3: Đặt lịch cho những “hòn đá lớn” thay vì phân loại những hòn sỏi nhỏ.

Ở lựa chọn này câu hỏi quan trọng nhất được đặt ra đó là: “Một đến hai việc quan trọng nhất mà tôi muốn đạt được trong tuần này trong vai trò này là gì?”

Khi đã có danh sách những điều quan trọng, ta sẽ lên lịch thực hiện cho những việc này trước tiên. Sau khi đã lên lịch ưu tiên thì lúc này ta mới bắt đầu sắp xếp cho những việc ít quan trọng khác trong các khung giờ còn trống.

Typical Week

Ở hình trên có một khoảng thời gian từ 8:00 – 9:00 sáng thứ Hai mỗi tuần mà tôi gọi là “Strategic Weekly Planning” (Lập kế hoạch chiến lược tuần). Đây là lúc tôi xem lại toàn bộ một tuần vừa qua và bắt đầu lên kế hoạch cho một tuần sắp tới. Khoảng thời gian này rất quan trọng với tôi và tôi rất hạn chế để cho bất kỳ việc gì xen ngang vào khoảng thời gian này.

Quay lại mô hình tổng quan 5 Lựa Chọn ở đầu bài, ta có thể thấy rằng việc đặt lịch cho những “Hòn đá lớn” này sẽ giúp ta nâng cao khả năng tập trung của mình hơn rất nhiều so với khi ta không có một lịch trình với những việc quan trọng đã được ưu tiên. Để hình dung rõ hơn, tôi muốn dùng hình ảnh của một trận chiến. Trước khi bước ra cuộc chiến, vị tướng lãnh đạo phải luôn có một kế hoạch hành động đã được vạch sẵn từ trước đó để đảm bảo rằng quân đội sẽ tập trung thực hiện theo đúng kế hoạch này nhất có thể. Dĩ nhiên khi cuộc chiến thật sự diễn ra sẽ có sai lệch so với kế hoạch, nhưng lúc này việc điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với việc không có bất kỳ kế hoạch nào cả.

Lựa chọn 4: Làm chủ công nghệ thay vì để công nghệ làm chủ mình

Tôi sẽ chia sẻ về Lựa chọn này ở phần thứ IV. Một ngày điển hình của tôi bằng video để thể hiện trực quan hơn suy nghĩ của mình.

Lựa chọn 5: Tái tạo năng lượng thay vì đốt cháy cạn kiệt “nguồn nhiên liệu” của mình.

Cơ thể chúng ta cũng giống như một chiếc xe vậy, nếu chúng ta liên tục chạy xe mà không đổ xăng / bảo trì cho xe thì đến một lúc nào đó chiếc xe sẽ không tiếp tục vận hành được nữa. Tương tự, cơ thể nếu chỉ làm việc liên tục mà không có những hoạt động / phương pháp để tái tạo năng lượng thì đến một lúc sẽ không còn khả năng để tiếp tục hoạt động một cách tối ưu nhất.

Về mặt năng lượng, tôi dựa trên ba mô hình năng lượng của “The 5 Choices”, “The Power of Full Engagement” của tác giả Tony Schwartz và Jim Loehr, “Are You Fully Charged?” của Tom Rath rồi sau đó cải biến lại theo suy nghĩ của mình. Qua kinh nghiệm áp dụng cá nhân, tôi cho rằng chúng ta có ba nguồn năng lượng chính đó là: Thể chất (Physical), Cảm xúc (Emotional) Tinh thần (Spiritual).

Về mặt thể chất bao gồm ba điều đó là ăn đúng (ăn các loại thức ăn cung cấp đủ dưỡng chất), ngủ đủ (trung bình 7 tiếng một ngày) và di chuyển nhiều (có ít nhất 30 phút một ngày để tập thể dục). Nếu áp dụng đúng ba điều này sẽ mang lại cho chúng ta nguồn năng lượng thể chất dồi dào. Đây cũng là nguồn năng lượng dễ dàng nâng cao nhất trong ba nguồn năng lượng ở mô hình trên.

Về mặt cảm xúc thì bao gồm mối quan hệ với con người bên trong mìnhmối quan hệ sâu sắc với những người khác. Tiến sĩ Chérie Carter-Scott từng nói rằng: “Mối quan hệ quan trọng nhất mà bạn có trong cuộc đời này là mối quan hệ với chính bản thân bạn.” Mối quan hệ với bản thân mình nghĩa là tôn trọng cảm xúc của mình, mong muốn của mình và dành thời gian cho chính mình. Một vài hoạt động tôi thường làm đó là viết nhật ký, nghe những bản nhạc sâu lắng, dành thời gian đọc sách để chiêm nghiệm v.v. Mối quan hệ với những người khác nghĩa là có một nhóm bạn cùng hệ giá trị và mục đích chung. Có một nghiên cứu kéo dài 75 năm của Robert Waldinger – một giáo sư tại Đại Học Y Harvard – nhằm tìm ra điều gì khiến cho con người hạnh phúc và khỏe mạnh. Trong suốt 75 năm, nhóm nghiên cứu theo dõi 724 người đàn ông từ khi họ còn là thiếu niên cho đến bây giờ (hầu hết người tham dự nay đã ở tuổi 90). Những người này được chia thành hai nhóm, một nhóm là các sinh viên năm nhất tại Đại học Harvard và nhóm thứ hai là một nhóm các chàng trai ở khu vực nghèo khổ nhất của Boston. Các chàng trai này sau đó trưởng thành và gia nhập vào đủ mọi tầng lớp trong cuộc sống. Có người là công nhân nhà máy, người thì là bác sĩ, người thì là luật sư. Một người trong đó thậm chí trở thành Tổng thống Mỹ. Một số bị nghiện rượu. Một số ít khác thì bị tâm thần phân liệt. Rất nhiều người leo lên đỉnh cao của nấc thang thành đạt, trong khi một số khác thì nằm ở dưới đáy xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện ra rằng dù là ở địa vị nào đi nữa thì chỉ có một thứ duy nhất khiến con người cảm thấy hạnh phúc, đó chính là: Những mối quan hệ tốt đẹp và sâu sắc. Chính vì vậy, nếu ta muốn có một nguồn năng lượng cảm xúc dồi dào thì chúng ta chắc chắn phải có mối quan hệ tốt đẹp với chính mình và với người khác.

Về mặt tinh thần đó là việc kết nối với sứ mệnh của mình cảm giác phụng sự cho một điều gì đó lớn hơn chính mình. Đây là nguồn năng lượng khó đạt được nhất nhưng cũng là nguồn năng lượng dồi dào nhất nếu có được nó. Nhắc đến nguồn năng lượng này, tôi nhớ ngay đến Giáo sư Stephen Hawking, người vừa qua đời gần đây. Dù thân thể ông không được như người bình thường, nhưng tôi tin rằng ông có nguồn năng lượng to lớn hơn bất cứ người khỏe mạnh nào, bởi một lẽ ông biết được sứ mệnh của mình và tại sao mình phải sống với sứ mệnh đó. Nhờ vậy, ông đã đạt được những kết quả phi thường khiến bao người kính phục.

Mô hình 5 Lựa Chọn này chính là tư duy bao trùm lấy việc quản lý thời gian, tập trung và năng lượng của tôi. Tuy nhiên, nếu chỉ có tư duy thôi thì bức tranh này theo tôi vẫn chưa hoàn chỉnh. Lý do là khi một ngày diễn ra sẽ có rất nhiều điều không theo được dự trù của mình. Chính vì vậy, tôi rèn luyện cho mình kỹ năng để quản lý công việc theo mô hình Getting Things Done (GTD) của David Allen.

II. KỸ NĂNG (SKILLSET)

GTD là một trong những phương pháp để quản lý công việc nổi tiếng nhất được phát minh bởi David Allen.

Nguyên tắc căn bản của GTD đó là “Não bộ không được dùng để chứa ý tưởng, mà là để sáng tạo ý tưởng”“Hầu hết căng thẳng của chúng ta đến từ việc không quản lý tốt những cam kết trong cuộc đời mình”.

Để có thể giải phóng bộ não khỏi việc chứa ý tưởng và để quản lý tốt cam kết của mình, chúng ta cần có:

  • Một hệ thống quản lý công việc mà chúng ta tin tưởng.
  • Một nơi để ta có thể thu thập tất cả mọi thứ đang diễn ra.
  • Năng lực làm rõ và đưa ra quyết định với các hạng mục mình đã thu thập.
  • Một hệ thống gợi nhắc ta hành động.
  • Liên tục cập nhật thường xuyên hệ thống đó để đảm bảo các cam kết được quản lý tốt.

Để làm được điều này, GTD trình bày cho chúng ta năm bước sau:

GTD
Mô Hình 5 Bước GTD – Nguồn: www.gettingthingsdone.com
Tạm dịch:

1.     Thu thập những gì khiến bạn lưu tâm: Sử dụng khay hồ sơ, sổ tay, sổ tay điện tử, hoặc một thiết bị ghi ấm để thu thập tất cả những gì khiến bạn lưu tâm. Những việc cần làm, các dự án, vấn đề cần giải quyết, dù lớn hay nhỏ, cá nhân hay trong công việc.

2.     Làm rõ hạng mục này có ý nghĩa gì: Với mọi thứ bạn đã thu thập, hãy tự hỏi: Có hành động được hay không? Nếu không, hãy loại bỏ nó, “ấp” nó, hoặc lưu trữ làm thông tin tham khảo. Nếu hành động được, hãy quyết định hành động tiếp theo là gì. Nếu ít hơn hai phút, hãy làm ngày. Nếu không, hãy ủy thác nếu có thể; hoặc đưa nó vào một danh sách việc phải làm.

3.     Sắp xếp các hạng mục vào đúng chỗ của nó: Đặt các gợi nhắc hành động vào danh sách tương ứng. Ví dụ, tạo các danh sách cho những hạng mục phù hợp – cuộc gọi, việc lặt vặt, emails cần gửi v.v.

4.     Xem lại thường xuyên: Xem lại danh sách của bạn thường xuyên nhất có thể để tin tưởng vào lựa chọn của mình về việc phải làm tiếp theo. Thực hiện một buổi đánh giá hàng tuần để cập nhật hệ thống của mình.

5.     Hành động: Sử dụng hệ thống của bạn để thực hiện hành động với sự tự tin.

 Dưới đây là mô hình luồng làm việc GTD do tôi tự vẽ lại và điều chỉnh cho phù hợp với phong cách làm việc của mình.

GTD Workflow

Về cách thức ứng dụng GTD vào công việc tôi sẽ chia sẻ trong phần IV. Một ngày điển hình để có một cái nhìn trực quan hơn.

Phần tiếp theo, tôi sẽ liệt kê một số công cụ hỗ trợ cho tôi trong quá trình quản lý một ngày của mình.

III. CÔNG CỤ (TOOLSET) / PHƯƠNG PHÁP (TECHNIQUES):

Quản lý thời gian 1. Toggl: Đây là công cụ để giúp tôi quản lý xem mình đã sử dụng bao nhiều thời gian cho một việc nào đó. Trước khi bắt đầu làm một việc gì, tôi sẽ khởi động chương trình và đến khi hoàn thành công việc chương trình sẽ cho tôi biết mình đã mất bao nhiêu thời gian. Công cụ này có tích hợp cả phương pháp Pomodoro (làm việc 25 phút, nghỉ ngơi 5 phút) giúp tập trung hơn trong công việc rất hữu ích.

2. Rescuetime: Công cụ này sẽ theo dõi thời lượng mà tôi sử dụng một phần mềm hay theo dõi một trang web nào đó trong ngày. Ví dụ nếu tôi sử dụng Facebook trong 45 phút thì phần mềm sẽ có nơi thể hiện cho tôi thấy rằng tôi đã dùng Facebook được 45 phút.

3. Google Calendar: Lịch làm việc của tôi và được đồng bộ hóa xuyên suốt các thiết bị điện tử mà tôi sử dụng (smartphone, laptop và tablet). Nhờ vậy tôi có thể truy cập vào lịch này ở bất kỳ đâu mà tôi muốn và thực hiện những điều chỉnh khi cần một cách dễ dàng.

Quản lý sự tập trung / công việc / tài liệu 1. Todoist: Todoist là trợ thủ đắc lực nhất của tôi trong việc quản lý các công việc của mình. Tôi sử dụng nó mỗi ngày và áp dụng nguyên lý GTD một cách sát sao khi sử dụng Todoist.

2. Evernote: Evernote là công cụ giúp tôi lưu trữ các loại tài liệu, ý tưởng, văn bản và giúp tôi tra xuất lại chúng một cách nhanh chóng. Rất nhiều người không tổ chức văn bản một cách khoa học, dẫn đến việc mất rất nhiều thời gian để tìm lại một văn bản nào đó. Evernote giúp tôi có thể dùng não bộ của mình để sáng tạo ý tưởng thay vì chứa ý tưởng.

3. Cold Turkey: Phần mềm này giúp tôi chặn những trang web mà tôi chỉ định trong một khoảng thời gian mà tôi mong muốn, từ đó giúp tôi tập trung hơn trong lúc mình làm việc.

4. Pomodoro: Đây là phương pháp được phát minh bởi Francesco Cirillo với mục đích ban đầu là giúp cho ông tập trung hơn trong quá trình còn là sinh viên của mình. Phương pháp này quy định rằng cứ mỗi 1 Pomodoro (25 phút) cực kỳ tập trung không để bất kỳ điều gì khiến mình xao lãng, thì chúng ta sẽ nghỉ ngơi trong vòng 5 phút để thư giãn. Sau 5 phút lại tiếp tục 1 Pomodoro nữa và cứ tiếp tục vòng lặp như vậy cho đến khi hoàn thành xong công việc của mình. Lý tưởng nhất là mỗi ngày có ít nhất 8 Pomodoro hoàn hảo (khoảng 4 tiếng cực kỳ tập trung) là có thể giải quyết một khối lượng lớn công việc của mình.

Quản lý năng lượng 1. Thời Gian Vàng Sinh Học (Biological Prime Time): Khái niệm này được giới thiệu trong quyển sách Work the System của Sam Capenter. Đây là khoảng thời gian vàng mà mỗi người tự nhiên có nhiều năng lượng, sự sáng tạo và tập trung hơn các khoảng thời gian khác mà không cần nhờ bất kỳ một chất kích thích nào. Khoảng thời gian vàng này của tôi là vào buổi sáng, từ 8h – 11h và đây sẽ là lúc tôi đặt lịch thực hiện những việc quan trọng nhất của mình trong khoảng thời gian này.

2. Tôi sử dụng thêm vòng đeo tay thông minh để quản lý quá trình tập luyện và ngủ nghỉ của mình. Dựa trên các dữ liệu thu thập được, tôi có thể đưa ra những điều chỉnh để thích ứng với hoàn cảnh hiện tại của mình.

IV. MỘT NGÀY ĐIỂN HÌNH

Đây là video mô tả một ngày điển hình của tôi, có thể xem được online ở đây.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Cal Newport (2016), Deep Work: Rules for Focused Success in a Distracted World, Grand Central Publishing.
  2. Chris Bailey (2017), The Productivity Project: Accomplishing More by Managing Your Time, Attention, and Energy, Crown Business.
  3. David Allen (2015), Getting Things Done: The Art of Stress-Free Productivity, Penguin Books.
  4. Francesco Cirillo (2018), The Pomodoro Technique: The Acclaimed Time Management System That Has Transformed How We Work, Currency.
  5. Jim Loehr, Tony Schwartz (2005), The Power of Full Engagement: Managing Energy, Not Time, Is the Key to High Performance and Personal Renewal, Free Press.
  6. Kory Kogon, Adam Merrill, Leena Rinne (2016), The 5 Choices: The Path to Extraordinary Productivity, Simon & Schuster.
  7. Sam Capenter (2011), Work the System: The Simple Mechanics of Making More and Working Less, Greenleaf Book Group Press.
  8. Stephen R. Covey (2013), The 7 Habits of Highly Effective People: Powerful Lessons in Personal Change (Anniversary Edition), Simon & Schuster.
  9. Tom Rath (2015), Are You Fully Charged? The 3 Keys to Energizing Your Work and Life, Silicon Guild.
  10. Cal Newport, Work Accomplished = Time Spent x Intensity, ngày tiếp cận 16/03/2018, http://calnewport.com/blog/2014/04/08/work-accomplished-time-spent-x-intensity/
  11. Carl R. W. Pullein (2017), Working with Todoist series, ngày tiếp cận 16/03/2018, https://www.youtube.com/watch?v=DhP7SJKiQ20&list=PLAzfmm1gS2_UIsnCtmVq52bljDw8Am2VH
  12. Carl R. W. Pullein, Working with Evernote series, ngày tiếp cận 16/03/2018, https://www.youtube.com/watch?v=UMayVLAKAvU&list=PLAzfmm1gS2_XNMhxQJoomJLKc-GG-1Ux6
  13. Michael Hyatt, How I Organize Evernote, ngày tiếp cận 16/03/2018, https://michaelhyatt.com/evernote-tags/
  14. Neil Vidyarthi, A Quick and Easy Guide to Completing Any Project in Todoist, ngày tiếp cận 16/03/2018, https://blog.doist.com/a-quick-and-easy-guide-to-completing-any-project-in-todoist-a40221971000
  15. Robert Waldinger, What makes a good life? Lessons from the longest study on happiness, ngày tiếp cận 16/03/2018, https://www.ted.com/talks/robert_waldinger_what_makes_a_good_life_lessons_from_the_longest_study_on_happiness

 

Nguyên Lý Cải Thiện 1%

Chào các bạn,

Sự thay đổi thường xảy ra trong một hoặc hai hình thức: 1) Thay đổi đột phá hoặc 2) Thay đổi tịnh tiến.

Cách thứ 1 rất khó, đòi hỏi bạn phải là người rất có ý chí, quyết tâm và nghị lực để thực hiện một cuộc cách mạng thật sự. Kinh nghiệm cá nhân của mình cho thấy muốn thay đổi đột phá trước hết phải có sự thay đổi về mặt tư duy. Bởi vì tư duy định hướng hành động, và hành động sẽ mang lại kết quả. Mình sẽ bàn về sự thay đổi này ở một bài sau nhé. Hôm nay chúng ta nói đến cách thứ 2, đó là thay đổi tịnh tiến.

Câu chuyện của Dave Brailsford

Năm 2010, Dave Brailsford phải đối mặt với một thử thách rất khó khăn.

Đội tuyển xe đạp Anh chưa bao giờ đạt được một giải Tour de France nào cả và nhiệm vụ của Dave là phải thay đổi tình trạng này.

Dave là một người rất tin vào một khái niệm có tên là “sự tiến bộ cộng gộp”. Ông giải thích rằng khái niệm này có ý nghĩa là “cải thiện 1% trong tất cả mọi thứ bạn làm.”

Với suy nghĩ đó, ông bắt đầu tìm kiếm mọi khía cạnh để cải thiện 1% cho đội tuyển như: loại gel mát-xa nào mang lại hiệu quả cao nhất; loại gối ngủ nào cho chất lượng ngủ tốt nhất để tuyển thủ mang đi du đấu; trọng lượng của bánh xe như thế nào là tối ưu nhất; dinh dưỡng như thế nào là tốt nhất v.v.

Dave và nhóm của ông đã tìm kiếm mọi thứ mà họ có thể cải thiện 1% được, dù chỉ là nhỏ nhất.

Dave dự kiến rằng nếu thực thi chiến lược này đến hoàn hảo thì trong vòng 5 năm, đội tuyển Sky Team sẽ có chiến thắng tại giải Tour de France.

Dave đã lầm. Bởi vì họ chỉ cần 3 năm để làm chuyện đó.

Đội tuyển Anh đã lập được những kỳ tích tại giải Tour de France, và tất cả là nhờ vào cách tiếp cận đầy sáng tạo của Dave.

Vậy câu hỏi ở đây là làm thế nào chúng ta có thể áp dụng cách tiếp cận “cải thiện 1%” này vào cuộc đời mình?

Sự tiến bộ cộng gộp – Nguyên lý cải thiện 1%

Đừng bao giờ đánh giá thấp sự tiến bộ qua thời gian, dù chỉ là nhỏ nhất.

Hãy nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn Rùa và Thỏ. Con rùa chiến thắng thỏ không vì rùa chạy nhanh nhất. Mà nó chiến thắng thỏ vì sự kiên trì bền bỉ, cố gắng từng chút, từng chút một cho đến khi đạt được thành quả cuối cùng.

Dù chỉ là cải thiện 1% nhỏ, nhưng khi cộng gộp chúng lại với nhau thì sức mạnh của nó sẽ rất khổng lồ.

Và ngược lại, chỉ cần 1% thụt lùi ở nhiều mặt cộng gộp lại cũng khiến bạn bị bỏ lại rất xa (như chú Thỏ của chúng ta).

Jim Rohn từng nói: “Thành công là sự lập đi lập lại của một vài kỷ luật, mỗi ngày; trong khi thất bại là một vài sai sót trong việc ra quyết định, mỗi ngày.”

Cải Thiện 1%

Nếu bạn muốn chạy 5km mỗi ngày, bạn có thể bắt đầu với việc chạy 5 phút mỗi ngày.

Nếu bạn muốn ngồi thiền 10 phút mỗi ngày, bạn có thể bắt đầu với việc ngồi 1 phút mỗi ngày.

Nếu bạn muốn tập trung liên tục trong vòng 60 phút, bạn có thể bắt đầu với việc tập trung trong vòng 5 phút liên tục.

Đó chính là sự tiến bộ cộng gộp. Chỉ cần cải thiện 1% liên tục, mỗi ngày. Bạn sẽ không thấy kết quả thay đổi đột ngột như bạn kỳ vọng giống trong phim ảnh đâu. Nhưng đến một thời điểm bạn sẽ thấy rằng thì ra mình đã đi được rất xa và đang ở rất gần đích đến của mình (như chú Rùa của chúng ta).

Tóm lại

Thành công chỉ là hệ quả của những gì bạn đã làm trong quá khứ. Đừng kỳ vọng cuộc đời của bạn sẽ một cách thần kỳ có được thành công.

Thay vào đó, hãy bắt đầu thay đổi ngay lúc này.

Đâu là 1% mà bạn có thể cải thiện ngay bây giờ?

Quá Già Hay Quá Trẻ Để Làm Gì?

Đinh Hải Đăng

*Update: thật trùng hợp ngày hôm nay (23/4) là sinh nhật 26 tuổi của tôi. Thật là một cách thú vị để ghi lại dấu ấn cho mình 🙂

Bài viết này là cảm hứng từ một buổi coaching (khai vấn) với một khách hàng gần đây của tôi. Trong buổi coaching này, chúng tôi có trao đổi với nhau về việc thực hiện mục tiêu của bạn và độ tuổi mà bạn muốn thực hiện mục tiêu của mình.

Bạn chia sẻ với tôi nỗi lo của mình khi có nhiều con đường lựa chọn để đến mục tiêu của mình. Trong đó có một lựa chọn mà bạn đang cân nhắc, tuy nhiên một trong những cản trở đối với bạn là bạn khá lo lắng về độ tuổi của mình vào thời điểm ấy. Bạn sợ rằng mình đã không còn trẻ để bắt đầu thực hiện mục tiêu của mình.

Tôi hoàn toàn hiểu được nỗi lo của bạn vì tôi cũng đã từng trải qua cảm xúc như bạn nhưng ở chiều hướng ngược lại. Tôi đã từng rất băn khoăn về việc theo đuổi con đường làm chuyên gia khai vấn (coach) của mình. Vào thời điểm ấy, tôi chỉ mới là một chàng trai 20 tuổi và vẫn còn đang rất băn khoăn cho con đường sự nghiệp của mình. Khi ấy tôi đã nghĩ rằng: “Mình có quá trẻ để làm việc này không?”

Ở bài viết trước tôi có chia sẻ với bạn về câu hỏi trao quyền và câu hỏi tước quyền. Và thật khôi hài khi tôi lại đặt cho chính mình câu hỏi như vậy. Tôi cảm thấy bất lực mỗi khi đặt cho mình câu hỏi ấy. Tôi sợ hãi và không dám làm gì nữa. Cho đến một thời điểm tôi chọn tạm ngừng lại một thời gian với lời biện hộ rằng: “Mình còn trẻ, còn thời gian mà. Khi nào có tài chính vững vàng hơn, có kinh nghiệm sống hơn, có mối quan hệ nhiều hơn rồi quay lại cũng không muộn.”

Nhưng vấn đề là “Khi nào?”

Tôi không trả lời được. Tôi cố gắng đưa ra một độ tuổi mà nghe có vẻ hợp lý. Nhưng thật sự thì tôi cũng không biết liệu độ tuổi ấy đã đủ chưa?

Tôi bám víu vào lời biện hộ này trong một thời gian dài để trì hoãn việc theo đuổi con đường của mình.

Quá Trẻ Hay Quá Già Để Làm Gì?

Cho đến một ngày cơ duyên đưa tôi gặp lại một người bạn đồng nghiệp cũ. Cậu đặt ra cho tôi câu hỏi làm thay đổi toàn bộ mọi tư duy của tôi về thời gian và tuổi tác.

Nguyên văn câu hỏi của cậu bạn tôi nói đó là: “Too young to do what? Too old to do what?” (Tạm dịch: Quá trẻ để làm gì? Quá già để làm gì?)

Bỗng nhiên mọi thứ bừng sáng trong tôi.

Đúng rồi. Quá trẻ để làm gì? Quá già để làm gì? Có luật lệ nào đặt ra rằng mình cần phải đạt đến độ tuổi nhất định nào đó trước khi làm một việc gì không? (Trừ việc pháp luật quy định bạn phải đạt đến tuổi vị thành niên.)

Đây quả thật là sức mạnh của một câu hỏi đúng (đó là lý do vì sao khai vấn cực kỳ hiệu quả cho sự thay đổi của cá nhân). Tôi cảm nhận được rõ rệt niềm tin của mình đã thay đổi hoàn toàn sau câu hỏi của bạn mình. Đó cũng là lúc tôi quyết định sẽ không để cho niềm tin giới hạn về độ tuổi của tôi ảnh hưởng đến con đường tôi lựa chọn nữa.

Còn bạn thì sao? Bạn có đang tự hỏi: “Liệu mình có quá trẻ/quá già để làm [x] không?”

Nếu câu trả lời là có, hãy nhìn sâu thẳm vào bên trong mình và đánh giá xem liệu có thật sự là vấn đề tuổi tác hay chỉ là một lý do để bạn trì hoãn. Và nếu đây là một lý do thôi, thì “khi nào” bạn sẽ thực hiện mơ ước của mình?

“Phần lớn mọi người đã chết ở tuổi 25, chỉ có điểu đến 75 tuổi mới chôn mà thôi” – Benjamin Franklin

Tôi mong rằng bạn sẽ không thuộc kiểu người trong câu nói trên.

Thời gian trôi nhanh lắm và không chờ ai cả. Chớp mắt một cái đã thấy mình hơn 25 rồi.

Còn bao nhiêu cái chớp mắt nữa thì ta mới nhận ra là đã trễ rồi?

Mến,

Hải Đăng

P/s: Nếu bạn không muốn phí hoài thời gian của mình và có những mục tiêu mình đang khao khát thực hiện, và nếu bạn cần một người bạn đồng hành chia sẻ cùng bạn, lắng nghe bạn và đặt cho bạn những câu hỏi để giúp bạn tìm ra câu trả lời cho mình, hãy cho bạn một cơ hội trải nghiệm khai vấn (coaching) nhé.

Tìm Hiểu Về Khai Vấn (Coaching)

Chất Lượng Cuộc Sống Của Bạn Phụ Thuộc Vào Điều Gì?

Đinh Hải Đăng

Chào bạn,

Tôi chắc một điều rằng trong cuộc sống của mình, bạn đã có những ngày tuyệt vời và cũng có cả những ngày tồi tệ. Hoặc thậm chí, bạn có thể có những ngày mở đầu tồi tệ nhưng kết thúc thật tuyệt vời và ngược lại.

Vì sao lại có điều này? Chuyện gì tác động đến một ngày của bạn vậy?

Bạn hãy thử nhớ lại một ngày tồi tệ hoặc tuyệt vời của bạn xem: Lúc ấy bạn đã nghĩ gì? Nói gì? Cảm nhận gì? Hành xử gì? Và điều gì là ngọn nguồn của những điều trên?

Câu trả lời đó chính là: sự tập trung của bạn.

Bạn có để ý thấy khi bạn càng tập trung vào những điều đã tồi tệ, thì bạn lại càng nhận được cảm xúc tồi tệ hơn không? Ngược lại, khi bạn càng tập trung vào những điều tuyệt vời, mọi thứ bỗng trở nên tuyệt vời.

Sự tập trung của chúng ta quyết định thái độ của chúng ta.

Chắc hẳn bạn đã biết câu chuyện của nhà tâm lý học Viktor Frankl tại trại tập trung. Khi tất cả mọi người tuyệt vọng vì bị hành hạ, tù đày, người thân bị giết thì Viktor Frankl lựa chọn tập trung vào thế giới bên trong của mình, tập trung vào việc kiểm soát phản ứng của mình.

Khi ông tập trung vào điều đó, thái độ của ông thể hiện ra ngoài rất khác. Dù rằng cuộc sống ở trại tập trung rất khổ cực nhưng ông vẫn có thể làm chủ được phản ứng của mình và sau đó là dạy lại cho những người bạn tù. Thậm chí sau khi được thả khỏi trại tập trung, ông còn dựa trên những trải nghiệm của mình để sáng tạo nên logo therapy nữa.

Rõ ràng sự tập trung của Frankl quyết định chất lượng cuộc sống của ông (ý tôi là ở mặt tinh thần và cảm xúc).

Vậy đến đây bạn chắc sẽ thắc mắc: “Nhưng sự tập trung này do đâu mà ra và làm sao để kiểm soát nó đây?”

Câu trả lời đó chính là: nó phụ thuộc vào chất lượng câu hỏi bạn đặt ra cho mình.

Câu hỏi khai sáng

Khi bạn đặt một câu hỏi tiêu cực, bạn sẽ chỉ tập trung tiếp tục vào những điều tiêu cực. Ví dụ “Trời ơi, tại sao điều này lại xảy ra với mình?” Bạn có để ý thấy ngay khi đặt câu hỏi này, bộ não sẽ đi tìm bằng chứng chứng minh là nó đúng không?

Ngược lại, nếu chuyện không hay xảy ra với bạn nhưng bạn có thể đặt cho mình câu hỏi tích cực như “Điều này có ý nghĩa tích cực hay cơ hội gì?” hay “Mình học được gì từ điều này?” thì ngay lập tức bộ não của bạn sẽ tập trung tìm ra câu trả lời cho bạn.

Điều này cũng lý giải vì sao trong quá trình khai vấn (coaching), tôi luôn luôn tin rằng câu trả lời sẽ đến từ bên trong bạn. Chỉ cần câu hỏi đúng, bạn sẽ có câu trả lời cho thử thách mình đang gặp phải. Và đó là lý do vì sao trong khai vấn, người coach dùng rất nhiều đến kỹ năng lắng nghe và đặt câu hỏi để giúp khách hàng khơi gợi tìm ra câu trả lời cho chính mình.

Câu Hỏi Trao Quyền vs. Câu Hỏi Tước Quyền

Trong một bài trước, tôi đã từng nhắc đến khái niệm này. Hôm nay tôi sẽ chia sẻ cụ thể hơn để bạn hiểu.

Câu hỏi trao quyền (empowering questions) là những câu hỏi mà khi đặt ra, người được đặt câu hỏi cảm thấy như mình có quyền lực để chịu trách nhiệm với bản thân và làm mọi thứ trong khả năng của mình để tạo nên ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng. Ví dụ một số câu hỏi trao quyền như:

  • Trong hoàn cảnh này, cách phản ứng tích cực sẽ là gì?
  • Trong khó khăn là cơ hội, vậy cơ hội ở đây là gì?
  • Bài học mình cần phải học ở đây là gì để có thể trưởng thành hơn?
  • Mình có thể làm được gì trong khả năng kiểm soát của mình?
  • Nguồn lực nào có thể giúp mình đạt được điều mình muốn?

Ngược lại, câu hỏi tước quyền (disempowering questions) khi đặt ra sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy như bị tước đi hết mọi quyền lực và không thể làm gì khác hơn. Ví dụ:

  • Trời ơi, vì sao điều này lại xảy ra với mình?
  • Mình có thể làm được điều này không?
  • Mình có đủ tự tin không?
  • Mình có quá trẻ/quá già để làm việc này không?
  • Mình là ai mà có thể làm việc này?

Bạn thấy đấy, hai loại câu hỏi này sẽ quyết định rất nhiều đến hướng tập trung của bạn.

Câu hỏi tôi dành cho bạn đó là “Bạn tự đánh giá xem mình hay dùng câu hỏi nào nhiều hơn trong cuộc sống của mình?”

Làm Thế Nào Để Học Cách Đặt Câu Hỏi Trao Quyền?

  1. Hãy trả lời câu hỏi trên của tôi trước. Thành thật với bản thân mình. Bước đầu tiên của thay đổi là mình cần nhận ra mình đang ờ đâu.
  2. Để ý và nắm bắt ngay mỗi khi ta thấy mình đang tự đặt những câu hỏi tước quyền. Ngừng trả lời cho câu hỏi đó và tìm cách biến câu hỏi đó thành một câu hỏi trao quyền.
  3. Trả lời cho câu hỏi trao quyền bạn mới đặt ra. Nếu được, hãy viết xuống câu hỏi của bạn vào một quyển sổ. Hãy biến nó thành một bộ sưu tập câu hỏi để khi cần thì bạn có thể xài liền. Bạn cũng có thể tham khảo 40 câu hỏi tự khai vấn chính mình.
  4. Lập lại bước 1-3 cho đến khi bạn thành thục.
  5. Cảm nhận sự thay đổi trong chất lượng cuộc sống của bạn.
  6. Trong trường hợp bạn vẫn chưa thấy sự thay đổi, cân nhắc đến việc sử dụng khai vấn (coaching) để tạo nên thói quen bền vững cho bản thân.

Hi vọng rằng bạn sẽ trở thành một bậc thầy trong việc đặt câu hỏi sau bài viết này.

Chúc bạn sớm thành công.

Hải Đăng

Định Nghĩa Thành Công Của Bạn Là Gì?

Đinh Hải Đăng

Có một câu chuyện kể như sau.

Một doanh nhân người Mỹ đang trong kỳ nghỉ mát đứng trên một mỏm đá tại một làng chài lưới lâu đời ở phía Nam Mexico.

Ông ta ngắm nhìn một chiếc xuồng nhỏ chỉ có một người dân chài trẻ trên đó đang cố gắng kéo chiếc xuồng của anh ta vào bờ. Bên trong khoang là vài con cá ngừ lớn. Hưởng thụ cái ấm áp của buổi chiều sớm nơi đây, người doanh nhân đưa ra lời khen về chất lượng những con cá trên thuyền.

”Anh đã mất bao lâu để bắt chúng vậy?” – người doanh nhân ngẫu hứng hỏi.

“À, không nhiều. Chỉ một vài giờ.” – người dân chài đáp.’

“Vậy tại sao anh không ở lại thêm lâu chút nữa rồi bắt nhiều hơn?” – người doanh nhân lại hỏi.

Người đánh cá trả lời hiền từ: ”Có lẽ tôi không cần nhiều, chỉ bấy nhiêu thôi là đủ cho gia đình tôi rồi.”

Người doanh nhân Mỹ chợt trở nên nghiêm túc: ”Vậy anh làm gì với thời gian còn lại của mình?”

Đáp lại với nụ cười, người dân chài nói: ”Tôi ngủ muộn, chơi với con tôi, xem những trận bóng chày, và ngủ trưa với vợ. Thỉnh thoảng vào những buổi tối, tôi đi dạo vào trong làng thăm bạn tôi, chúng tôi chơi guitar và hát cùng nhau…’

‘Người doanh nhân nôn nóng cắt ngang: “Nghe này, tôi có bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh tại Harvard, và tôi có thể giúp anh trở nên giàu có hơn. Anh có thể bắt đầu bằng việc kéo dài thời gian làm việc, có lẽ là thêm vài giờ trên biển mỗi ngày. Sau đó anh có thể bán số cá thừa và kiếm thêm tiền. Với số tiền đó, anh có thể mua thêm một chiếc thuyền, lợi ích nó đem lại không hề nhỏ. Rồi mua được vài ba chiếc xuồng nữa. Cứ như vậy, anh sẽ có hẳn một đoàn thuyền mà đi câu cá.”

Tự hào về những suy nghĩ sắc bén của mình được tôi luyện ở những năm học tại Harvard, người doanh nhân thêm thắt chi tiết vào cái kế hoạch to lớn vừa vạch ra mà thậm chí sẽ đem lại nguồn lợi nhiều hơn thế. “Thay vì bán những gì anh kiếm được cho người môi giới, hãy bán chúng trực tiếp cho trung tâm xử lí. Thậm chí hãy mở hẳn một nhà máy của riêng anh. Cuối cùng, kiểm soát những sản phẩm, quá trình sản xuất và phân phát. Giàu có hơn, anh sẽ có khả năng rời chiếc xuồng bé tí này và chuyển tới…coi nào, thành phố Mexico to lớn chẳng hạn? Hay New York? Nơi mà anh sẽ mở rộng công việc làm ăn thêm nữa, tìm vài đối tác… Ý tôi là, tại sao không thử cơ chứ? Khi anh còn vẫn trẻ và có nhiều cơ hội?”

Chưa bao giờ nghĩ đến những điều như vậy, người dân chài băn khoăn: “Nhưng nó sẽ tốn bao lâu?”

Sau những tính toán nhanh, người doanh nhân Mỹ với bằng tốt nghiệp thạc sĩ loại ưu tại Harvard trả lời: “Có lẽ là từ 15 đến 20 năm, hoặc ít hơn nếu anh làm việc chăn chỉ.”

“Và rồi thì sao, thưa ngài?” – “Đó, đó là phần tuyệt nhất.” – cười phá lên, người doanh nhân nói – Khi thời khắc đến, bán cổ phần công ty, anh sẽ kiếm hàng triệu. Hứng thú chứ?”

“Ồ, hàng triệu ư thưa ngài? Rồi tôi sẽ làm gì với chừng đó tiền?”

Người doanh nhân nói: “Thì hãy làm gì khiến anh hạnh phúc. Chuyển tới một ngôi nhà ven biển đẹp nơi anh có thể ngủ muộn, chơi với cháu của mình, xem những trận bóng chày, ngủ trưa với vợ anh. Anh có thể đi dạo trong vườn, thăm bạn, hãy đánh đàn guitar và hát với họ.”

Người dân chài mỉm cười: “Nhưng thưa ngài, phải chăng tôi đang sống trong tất cả những điều đó?”

Bạn có hiểu ý nghĩa câu chuyện này là gì không? Ý nghĩa của nó đó chính là mỗi người đều có một định nghĩa khác nhau về thành công và hạnh phúc. Bạn không nên, và không thể ép một người khác sống với định nghĩa về thành công và hạnh phúc của chính bạn được.

Tương tự, bạn cũng không nên mù quáng theo đuổi những định nghĩa về thành công hay hạnh phúc của người khác mà không suy xét liệu đó có phải là điều mình thật sự muốn hay không.

Định Nghĩa Thành Công Của Tôi

Chắc hẳn nếu bạn là độc giả quen thuộc của tôi thì bạn cũng biết rằng tôi đang làm khai vấn (coaching) cho đối tượng từ 18-35 tuổi.

Một trong những điều mà tôi được học khi tham gia khoá học đào tạo chuyên môn khai vấn đó là “bạn không thể cho người khác cái bạn không có.”

Điều này gây ấn tượng với tôi và khiến tôi suy nghĩ nhiều. Vậy mình đã thành công chưa để giúp người khác cũng có thành công? Làm sao mình dám lấy tiền của người khác và hứa hẹn rằng sẽ giúp họ thành công nếu mình còn chưa đạt được thành công?

Đây là những câu hỏi khiến tôi trăn trở nhiều. Và bất chợt tôi nhận ra hình như mình đang sai trong mặt lý luận. Trước khi bắt đầu với những câu hỏi ấy, tôi cần hỏi mình trước là “Vậy thành công với tôi là gì?”

Bạn thấy đấy, tôi đã quá tập trung vào định nghĩa thành công của xã hội nên cứ cho rằng tôi chưa thành công thì làm sao giúp người khác thành công? Tôi đã áp chuẩn mực của xã hội vào đó là “nhiều tiền, danh vọng, vật chất, nổi tiếng, có công ty riêng v…v…”

Nếu xét theo góc nhìn đó, tôi hẳn không phải người thành công.

Tôi đã vô tình quên rằng tôi có một định nghĩa thành công rất khác. Một định nghĩa thành công sâu sắc mà tôi học được từ Coach John Wooden.

Đối với Coach, thành công chính là “Sự thanh thản trong tâm hồn. Sự thanh thản này là kết quả của việc biết rằng mình đã làm hết sức có thể trong khả năng của mình.” Hay nói cách khác, chỉ có chúng ta mới đánh giá được liệu chúng ta đã thành công hay chưa dựa trên nỗ lực của chính mình. Sau khi xong việc, chúng ta có cảm thấy thanh thản vì mình đã cố hết sức hay chưa?

Đối với Coach, kết quả là sản phẩm của nỗ lực. Đôi lúc bạn thắng, đôi lúc bạn thua. Bạn không kiểm soát được điều đó. Nhưng bạn có thể kiểm soát được nỗ lực của mình.

Ngay lúc nhớ lại định nghĩa này, tôi chợt nhận ra tôi là người thành công. Và tôi có thể cho khách hàng của tôi cái mà tôi đã có. Bởi vì tôi biết rằng nếu tôi đã không làm thì thôi, một khi làm tôi sẽ nỗ lực hết sức để có được sự thanh thản trong tâm hồn.

Bạn thấy không, nếu tôi không kịp nhắc nhở chính mình về định nghĩa thành công mà tôi chọn thì có lẽ tôi đã tự dày vò mình mãi rồi.

Tôi không nói những định nghĩa thành công về vật chất là không đúng. Chỉ có điều, nó không hợp với tôi mà thôi.

Bạn cũng vậy, bạn sẽ có định nghĩa riêng của mình. Vậy thì tôi muốn hỏi bạn “Định nghĩa thành công của bạn là gì?”“Bạn đã đạt được nó chưa?”

Thân mến,

Đinh Hải Đăng

Quay Về Những Thứ Căn Bản

Đinh Hải Đăng

Vừa rồi mình vừa mới gặp một trường hợp thú vị và mình nghĩ có nhiều bài học trong đó.

Câu chuyện đó là một bạn đăng ký thực hiện Coaching với mình vào buổi tối hôm qua. Tuy nhiên sáng hôm sau thì bạn ấy email cho mình và chia sẻ rằng bạn xin rút lại đơn đăng ký.

Lý do là vì hôm qua, trước khi gửi đơn đăng ký, có một người đã nói với bạn ấy rằng “hãy quay về những thứ căn bản trước đi”. Mặc dù vậy bạn ấy vẫn quyết định đăng ký với Coaching. Và rồi bạn chia sẻ với mình là bạn cảm thấy bên trong có cái gì đó sai sai. Cái sai đó là “hình như mình cứ đi hỏi nhiều người rồi không làm gì thì cũng vậy thôi và vì lòng tự trọng của mỗi người chỉ có mình biết khi tự mình với mình thôi à.”

Bạn nghĩ cảm xúc của mình là gì khi đọc email này? Thành thật mà nói, mình rất rất vui. Dĩ nhiên là mình mất đi một khách hàng tiềm năng, nhưng mình lại thấy thật là hạnh phúc khi bạn tự hiểu ra được vấn đề của chính bản thân mình, và tự có giải pháp cho chính mình.

Đó là lý do vì sao mà từ trước đến giờ khi làm Coaching, mình luôn có một niềm tin rằng bản thân khách hàng sẽ có lời giải đáp hoàn hảo nhất cho vấn đề họ đang gặp phải. Dĩ nhiên có người “ngộ tính” cao thì sẽ tự trả lời được, nhưng cũng có những người cần một người bạn đồng hành lắng nghe, đặt câu hỏi để hỗ trợ cho họ tìm ra câu trả lời.

Tuy nhiên cái làm mình còn thú vị hơn nữa đó chính là cái “căn bản” mà bạn ấy nhắc đến trong bài. Đọc email của bạn, mình tự hỏi chính mình: “Hmmm… Thú vị thật. Vậy thì căn bản đối với mình là gì?” Và bài viết này sẽ thay mình trả lời câu hỏi ấy.

Tại Sao Căn Bản Lại Quan Trọng?

Bởi vì theo mình, căn bản là những gì đơn giản nhất. Và những gì đơn giản nhất lại thường là những thứ mạnh mẽ nhất, tinh túy nhất mà những người đi trước sau khi chiêm nghiệm đã giản lược lại cho chúng ta.

Lý Tiểu Long từng nói “Tôi không sợ người luyện tập 10.000 cú đá chỉ một lần, mà chỉ sợ người thực hành 1 cú đá 10.000 lần”. Đó chính là căn bản.

Chúng ta cứ hay tìm kiếm những thứ mới mẻ hơn, hào nhoáng hơn trong khi chưa thành thục những thứ căn bản nhất. Đặc biệt trong lĩnh vực phát triển bản thân, mình nhận thấy bản thân mình trước đây, và một số bạn bây giờ cứ phải đọc cho thật nhiều sách, nghe thật nhiều diễn giả, học thật nhiều khóa học v.v. trong khi bản thân thì luyện chưa tới những điều căn bản nhất của phát triển bản thân.

Mình may mắn khi nhận ra điều đó khoảng 3 năm về trước. Từ đó trở đi thật ra mình đọc rất rất ít sách về chủ đề phát triển bản thân. Thay vào đó mình chuyển sang dòng sách tạm gọi là “tu thân” nhiều hơn. Về hiện tại số đầu sách đếm chưa quá một bàn tay. Và mình cứ miệt mài luyện đi luyện lại. Mỗi lần lại ngộ ra thêm được rất nhiều điều.

Vậy đâu là những điều căn bản mà ta nên luyện tập? Theo cảm nhận và trải nghiệm cá nhân của mình thì có một số điều căn bản sau (bạn có quyền lựa chọn đồng ý hoặc không đồng ý).

Nguyên Lý Căn Bản #1: Quyền Lựa Chọn

Định nghĩa của lựa chọn đó là “tự do chọn điều bạn muốn trong một loạt các phương án khác nhau.” Đó cũng chính là nền tảng căn bản mà mọi Coach đều tâm niệm khi làm việc với khách hàng của mình.

Ngay lúc này, bạn cần phải hiểu bạn sinh ra đã có quyền được lựa chọn. Đó là quyền thiêng liêng nhất của bạn. Nếu bạn nói bạn không có quyền lựa chọn thì sẽ không ai có thể giúp bạn được cả. Chắc bạn nghĩ, nhưng rõ ràng có những hoàn cảnh mà tôi cảm thấy mình không có lựa chọn nào cả.

Nếu bạn nghĩ như vậy, hãy thử google tìm hiểu câu chuyện của nhà tâm lý học Viktor Frankl, bạn sẽ thấy dù là trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, chúng ta vẫn có quyền lựa chọn thái độ phản ứng của mình với hoàn cảnh ấy.

Mình nói vậy để bạn hiểu, nếu bạn muốn, bạn có quyền chọn viết lại câu chuyện đời mình và sống một cuộc sống khác đi so với cuộc sống hiện tại của bạn. Điều kiện tiên quyết chỉ có một, đó là bạn có muốn hay không?

Thử thách dành cho bạn: tự hỏi bản thân “Tôi muốn gì?”. Viết ra một danh sách những điều bạn muốn và thành thật hỏi rằng “Mình có quyền chọn làm điều này hay không?”

Nguyên Lý Căn Bản #2: Mối Quan Hệ Quan Trọng Nhất Bạn Có Trong Cuộc Đời Này Là Mối Quan Hệ Với Bản Thân Bạn

Không phải người yêu. Không phải vợ/chồng. Không phải con cái. Không phải cha mẹ. Không phải bạn bè. Không phải sếp/đồng nghiệp/nhân viên. Tất cả những mối quan hệ đó chỉ là thứ cấp.

Mối quan hệ quan trọng nhất là với bản thân bạn. Tại sao ư? Vì dù có muốn cách mấy đi nữa, vẫn sẽ có những thời điểm những người phía trên không sống cùng bạn nữa. Những lúc ấy, bạn ở cùng với ai? Dĩ nhiên là với chính bạn.

Vậy nếu bạn không cảm thấy hạnh phúc với chính bạn, bạn có hạnh phúc với đời mình được không? Nếu bạn không cảm thấy yêu thương chính mình, bạn có yêu thương được mọi người? Nếu bạn không lắng nghe được chính mình, bạn liệu có lắng nghe được người khác?

Vậy thì mối quan hệ ấy trông như thế nào? Nó là khi bạn làm những thứ tốt đẹp cho đời mình. Nó là khi bạn lắng nghe thông điệp bên trong mình và làm theo ước nguyện của bản thân. Nó là khi bạn trân trọng bản thân mình (cả tốt lẫn xấu). Nó là khi bạn dịu dàng, tử tế với chính mình.

Mình biết đây không phải là điều dễ làm. Bản thân mình cũng đang nỗ lực để duy trì và giữ vững những thói quen tốt đẹp cho bản thân. Và nếu bạn tin mình, ngay từ bây giờ, hãy làm những gì tốt đẹp nhất cho bản thân.

Thử thách dành cho bạn: Lập ra hai danh sách “Mình đang làm điều gì gây hại cho bản thân?” và “Mình cần phải làm gì tốt đẹp cho bản thân?” Cam kết thực hiện theo danh sách 2 và dần dần loại bỏ những điều trong danh sách 1 cho đến khi không còn điều nào nữa.

Nguyên Lý Căn Bản #3: Thấu Hiểu Cảm Xúc

Cảm xúc là một phần không thể thiếu làm nên sự độc đáo của con người. Những quyết định quan trọng trong đời bạn nếu thiếu đi sự cân nhắc cảm xúc thì nhiều khả năng nó chưa phải là quyết định tối ưu nhất.

Nhưng thật ra rất ít người để ý cảm xúc của mình trong suốt một ngày. Bạn cũng hãy tự hỏi chính bạn là 1 tiếng trước bạn đã có cảm xúc gì, sự kiện gì xảy ra, và bạn đã làm gì hay không?

Tất cả các khách hàng làm Coaching với mình, tùy thời điểm khác nhau, mà mình sẽ yêu cầu họ phải viết Nhật Ký Cảm Xúc. Dĩ nhiên không phải để báo cáo với mình, mà là để kết nối với bản thân người đó tốt hơn.

Cách viết nhật ký rất đơn giản. Bạn chia làm ba cột là Cái gì (What?); Tại sao (Why?) và Như thế nào (How?).

Ở cột “what”, bạn hãy viết lại những sự kiện diễn ra trong ngày mà khiến bạn có cảm xúc (bất kỳ cảm xúc gì). Bạn cần gọi tên cụ thể cảm xúc đó ra. Ở cột “why”, bạn cần suy nghĩ tại sao bạn lại có cảm xúc đó, ý nghĩa của cảm xúc đó là gì. Và cuối cùng ở cột “how”, bạn viết ra mình sẽ làm gì với cảm xúc này.

Ví dụ sáng nay sau khi thực hiện 1 ca Coaching, mình cảm thấy đầy cảm hứng. Lý do là vì mình đã giúp đỡ cho khách hàng của mình có những nhận thức mới hơn về bản thân. Cuối cùng mình viết ra là mình cần tiếp tục cải thiện năng lực bản thân để có thể giúp đỡ nhiều người hơn nữa để có cảm xúc này. Rất đơn giản phải không?

Và đây là thử thách dành cho bạn: cam kết trong 7 ngày sắp tới mang theo một quyển sổ bên mình và ghi chú lại những cảm xúc bạn nhận thấy trong ngày. Sau 7 ngày, hãy quay lại đây comment chia sẻ kết quả mà bạn đạt được :).

Diễn giả huyền thoại Jim Rohn từng nói “Thành công chẳng phải là thứ gì ma thuật hay huyền bí. Nó chỉ đơn giản là hệ quả của việc áp dụng kiên trì những nguyên lý căn bản nhất.”

Chúc bạn kiên định đến cùng.

Đinh Hải Đăng

Trong Khó Khăn Là Cơ Hội

Đinh Hải Đăng

Đây là câu thần chú đã cứu cánh cho mình rất nhiều lần trong những tình huống tưởng như đã là “bàn thua trông thấy”.

Và mình học được nó từ sếp cũ của mình. Anh là một người lúc nào cũng có thể nhìn ra được tia sáng phía cuối đường hầm và nhìn thấy cơ hội trong khó khăn.

Trong công việc, anh là người dạy cho mình tư duy đúng đắn của một người lãnh đạo là như thế nào. Trong những lúc khó khăn nhất, khi tất cả mọi người đều nhìn thấy “cửa tử”, thì người lãnh đạo phải luôn là người có thể nhìn thấy được “cửa sinh”.

Tương tự, những khó khăn bạn đang trải qua lúc này cũng có thể mang trong nó những cơ hội tuyệt vời nhất mà bạn có thể gặp được.

Quan trọng là, bộ não của bạn đang được lập trình để thấy “cửa” nào?

Mình nhớ ngày mới bắt đầu lập blog này, khó khăn trăm bề. Không có kiến thức gì nhiều về làm web cả. Cũng chẳng có bất kỳ kinh nghiệm gì về việc viết lách. Lại càng không có bất kỳ một kiến thức gì về marketing. Đây là khó khăn hay cơ hội? Tùy bạn nhìn nhận vấn đề.

Đối với mình, nó là cơ hội. Nhờ nó mà mình đã tự học được một số kiến thức căn bản về HTML/CSS để nếu cần có thể chỉnh cái này, cái kia trên website mà không cần phải nhờ cậy ai. Nhờ nó mình tự tìm tòi cách viết lách sao cho cuốn hút hơn, thú vị hơn và thể hiện con người mình hơn. Nhờ nó mình tự mày mò các kiến thức, thuật ngữ về marketing để thu hút người đọc nhiều hơn.

Hay lấy một ví dụ khác trong xã hội hiện tại đi. Gần đây đang nổi cộm vấn đề về việc các ứng dụng bắt xe “GrabBike” hay “Uber” đang dần lấy đi công ăn việc làm của các bác xe ôm truyền thống. Vậy đây là khó khăn hay cơ hội?

Lại cũng tùy cách nhìn nhận. Có bác xe ôm bảo rằng họ già rồi, không học được công nghệ nên không đăng ký chạy Grab. Dĩ nhiên mình cũng thông cảm về điều này. Nhưng vấn đề là nhiều lần mình gọi Grab cũng có nhiều bác xe ôm rất già mà vẫn chạy Grab Bike. Họ có phải đã nhìn thấy “cửa sinh” trong “cửa tử” hay không?

Cuộc sống này vận hành theo quy luật âm dương của nó. Trong tốt có xấu, trong xấu có tốt. Trong khó khăn có cơ hội, trong cơ hội có khó khăn. Trong âm có dương, trong dương có âm. Bạn không nên để bản thân bị vướng vào tư duy một chiều, nghĩa là chỉ thấy có một mặt vấn đề được.

Ngay lúc này đây, bạn hãy nhìn thằng vào khó khăn của mình đang gặp phải, và tự hỏi bản thân xem: “Cơ hội dành cho mình ở đây là gì?”

Mình cá chắc với bạn một điều, bạn sẽ có hàng loạt câu trả lời cho câu hỏi trên. Vấn đề là, sau khi nhìn ra được cơ hội, bạn có chấp nhận vượt qua khó khăn để nắm lấy cơ hội hay không? Vì như mình đã nói, trong khó khăn là cơ hội, mà trong cơ hội cũng lại có khó khăn.

Vậy làm thế nào để rèn luyện não bộ thành thói quen nhìn đâu cũng thấy cơ hội? Mình thấy có một vài cách sau đây.

Chuẩn Bị Kiến Thức và kinh nghiệm

Đôi khi cái gọi là cơ hội không gì hơn là bạn đã chuẩn bị sẵn sàng kiến thức và kinh nghiệm của mình. Và khi mọi người nhìn thấy mọi thứ là khó khăn, thì với kiến thức bạn đã chuẩn bị sẵn, bạn lại có thể nhìn thấy cơ hội trong đó.

Kiến thức thì dễ rồi, bạn có thể học ở bất kỳ đâu: sách vở; khóa học (online lẫn offline); những bậc tiền bối đi trước; tự trải nghiệm để học…

Kinh nghiệm thì khó hơn một chút, đòi hỏi bạn phải dám dấn thân hành động. Nhưng dĩ nhiên cái gì khó thì nó mới có giá trị. Một tấn lý thuyết không bằng một gam hành động mà.

Vậy nên ngay từ lúc còn trẻ, bạn phải nỗ lực chuẩn bị sẵn sàng kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân nhé.

chú ý suy nghĩ của mình

Mỗi khi bạn thấy bản thân rơi vào suy nghĩ bi quan khi gặp khó khăn, hãy ngay lập tức kéo mình về hiện tại. Bạn có thể hít thở ba hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh.

Sau đó, lập lại trong đầu mình nhiều lần câu hỏi: “Cơ hội ở đây là gì?”

Não bộ của chúng ta có thể ví như một cỗ máy Google khổng lồ vậy. Nó phản ứng với những câu hỏi chúng ta đặt ra cho bản thân. Và nó sẽ luôn tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó.

Vì vậy, huấn luyện bản thân chú ý đến những suy nghĩ của mình, rồi đặt cho mình những câu hỏi tích cực là cách để bạn lập trình lại não bộ của mình.

Học từ thất bại

Đôi khi cơ hội đến dưới hình dạng của sự thất bại. Trong mỗi lần bạn thất bại đều có ẩn chứa một bài học mà nó sẽ lập đi lập lại cho đến khi nào bạn học được bài hoc ấy thì thôi.

Chính vì vậy, mỗi khi gặp thất bại, đừng nản chí. Thay vào đó, bạn hãy tự hỏi mình: “Bài học mình học đươc ở thất bài này là gì?”

Một lần nữa, não bộ của bạn sẽ tìm cách trả lời cho bằng được câu hỏi đó. Hãy nhìn thật kỹ, và bạn sẽ thấy có những bài học mà chẳng nơi đâu có thể dạy bạn tốt hơn bằng thất bại của bạn.

Chúc bạn luôn nhìn thấy “trong khó khăn là cơ hội”.

Thân mến,

Đinh Hải Đăng